Sign up

Nguyễn Khắc Phước và bạn hữu

Lời chúc Năm Mới của nhạc sĩ QuỳnhHợp

Chung — Viết bởi ngkhacphuoc @ 09:03

alt

Năm mới:
Cầu cho bình an đột nhập vào nhà bạn và kẻ trộm ăn cắp hết buồn phiền của
bạn.
Cầu cho yêu thương nhồi chặt cơ tim và nụ cười luôn tấn công bạn.
Cầu cho hạnh phúc bám theo bạn dai dẳng và mãi không chịu buông tha.
Cầu cho thần tài bị thiên đình truy nã và trốn vào két sắt nhà bạn…

Quỳnh Hợp


Trường Trung cấp Phật học Đà Nẵng ra mắt tập san Pháp Uyển số 3

Chung — Viết bởi ngkhacphuoc @ 18:21

ĐÀ NẴNG: RA MẮT TẬP SAN PHÁP UYỂN SỐ 3

Vào lúc 19 giờ ngày 18-01-2012 tại chùa Kỳ Viên, 74 đường Lê Đình Lý, Đà Nẵng,  tập san Pháp Uyển số 03 do Thượng tọa  Thích Từ Nghiêm, Phó Hiệu trưởng Trường Trung cấp Phật học Đà Nẵng chủ biên, đã hân hạnh ra mắt bạn đọc  nhân kỷ niệm 2600 năm ngày Đức Phật thành Đạo và chào đón xuân Nhâm Thìn 2012.

Đến tham dự buổi Ra Mắt gồm có thượng tọa Thích Từ Nghiêm từ chùa Phổ Đà, Đại đức Thích Đạo Hạnh – trụ trì chùa Kỳ Viên, Đại đức Thích Thanh Tâm và  Đại đức Thích Thanh Hường đến từ Thiền Viện Bồ Đề, các anh chị trong Ban biên tập và gần 30 cộng tác viên, có người  từ TP HCM và hải ngoại.

“Với sự đóng góp của hơn 40 bài viết và thơ, Pháp Uyển 03 bao gồm các đề tài liên quan đến tâm thức con người, từ một dấu ấn của thời thơ ấu cho đến những nhìn nhận đầy tính nhân văn mà những tác phẩm văn chương hay giáo dục mang lại. Tất cả chùng với chủ đề mùa xuân, Đức Phật thành Đạo, hay những lời dạy của người, đã hòa quyện thành một tấm lòng thiết tha vì cái đẹp, vì lòng nhân ái mà những cộng tác viên mang lại.” (Trích Lời Ngõ)

Thầy Từ Nghiêm  đại diên Ban biên tập cám ơn lòng hảo tâm của các nhà tài trợ, sự nhiệt tình giúp đỡ của các chùa và phật tử, sự tham gia vô vị lợi của các cộng tác viên, nhờ vậy mới hoàn thành được 3 tập Pháp Uyển trong năm 2011. Mặc dù để có Pháp Uyển 03, trường Cao Đẳng Phật học Phổ Đà đã phải thêm không ít kinh phí nhưng cũng chỉ gởi biếu bạn đọc, không bán, nghĩa là không thu lại được “vốn” ban đầu, do đó chưa thể gởi nhuân bút đến cộng tác viên được. Nhân dịp này, đại đức Thích Đạo Hạnh hứa sẽ ủng hộ Pháp Uyển mỗi số một triệu đồng, kể từ số 01.

 Đà Nẵng là thành phố lớn có số lượng chùa, khuôn hội và phật tử đông đảo nhưng Thành hội chưa có một ấn phẩm riêng cho mình như các nơi khác. Pháp Uyển hy vọng sẽ trở thành tập san chính thức của Thành hội Phật giáo Đà Nẵng trong một ngày không xa.

Theo lời thầy Từ Nghiêm, Pháp Uyển 04 sẽ ra mắt vào dịp mừng Phật Đản 2012 và nhận bài ngay sau thời gian nghỉ tết Nhâm Thìn. Bài viết xin gởi trực tiếp về hai email sau: bbtphapuyen@yahoo.comnguyenvannho2001@yahoo.com .

 

Tâm Tu Nguyễn Khắc Phước

alt

 

 

alt

 

 

alt

 

 

alt

 

 

alt

 

 

alt

 

 

alt

 

 

alt

 

 

alt

 

 

alt

 

 

alt

 

 

alt

 

 

alt

 

 

alt

 

 

alt


Giới thiệu trang bạn

Chung — Viết bởi ngkhacphuoc @ 07:29

Mời các bạn đọc trang VĂN NGHỆ QUẢNG TRỊ với nhiều sáng tác mừng xuân. Xin vào đây: http://vannghequangtri.blogspot.com/


VỆT NẮNG

Chung — Viết bởi ngkhacphuoc @ 10:00

Sau những ngày mưa phùn gió bấc, bầu trời luôn xám xịt, chiều nay trời ít mây, le lói chút nắng nhạt. Trên nền nhà xuất hiện một vệt nắng vàng chiếu xuyên qua khe màn cửa số. Vệt nắng run run  như đang cầm cự với cơn gió bấc giữa mùa.

 

Thằng bé gần một tuổi rưởi đang chơi với ông nội. Nó chạy lung tung, thấy cái gì cầm được là chộp liền rồi ném xuống cầu thang, bắt ông nó phải xuống lượm.

 

Trông thấy vệt nắng, thằng bé ngồi xuống chụp nhưng không lượm được gì. Thế nhưng nó không bỏ cuộc; cứ đi một vòng quanh nhà  rồi trở lại chụp. Khi nó quay lại lần thứ năm thì nó òa khóc. Ông nội nó hỏi sao con khóc, nó chỉ vào chỗ có vệt nắng hồi nãy. Vệt nắng không còn, không biết nó đã di chuyển đi đâu. Ông giúp cháu tìm  vệt nắng nhưng không thấy. Vệt nắng  không còn nữa. Mặt trời đã trốn vào  trong đám mây đen đang ủ mưa.

 

Thằng bé càng lúc càng khóc to, đòi cho được vệt nắng. Ông dỗ nó bằng cách bồng nó quanh nhà, giả bộ đi tìm, nói nắng đã vào ngủ trong buồng này, tủ kia. Chỉ có điều ông không thể giải thích cho nó hiểu vệt nắng thực sự đã đi đâu và càng không hiểu nếu ông nói với nó ông cũng chỉ là một vệt nắng chiều đông mà thôi.


LÊ DIỄN ra mắt Giai Phẩm QUÊ NHÀ Xuân Nhâm Thìn 2012

Chung — Viết bởi ngkhacphuoc @ 09:41

Tối qua tại nhà hàng Hải Sương số 777  đường Nguyễn Tất Thành, Đà nẵng,  Giai phẩm QUÊ NHÀ Xuân Nhâm Thìn 2012 do anh LÊ DIỄN chủ biên đã được ra mắt bạn đọc trong một tiệc trà thân mật có sự hiện diện của nhiều văn nhân, thi sĩ, họa sĩ như nhà thơ Đông Trình,nhà báo  Phạm Xuân Hùng, nhà báo Hồ Sĩ Bình, nhà báo  Trần Trình Lãm, họa sĩ Tôn Thất Bằng, nhạc sĩ Diệp Chí Huy, nhà báo Cữu Loan, nhà báo Hoàng Hữu Quyết và nhiều anh chị em ham mê văn học  khác.  Anh Lê Hải, một doanh nhân tại TP HCM, em ruột của anh Lê Diễn ( là "bà đỡ" cho Tình Quê trước đây,và nay là"bà đỡ" cho QUÊ NHÀ) cũng đã về tham dự. Ngoài ra còn có sự hiện diện của anh Trần Thanh Bình và một số anh chị khác trong Ban đại diện Hội đồng hương Quảng Trị tại Đà Nẵng.

 

Sự góp mặt của QUÊ NHÀ đã là làm phong phú thêm hoạt động văn hóa, văn nghệ của người Quảng Trị và những người bạn yêu mến Quảng Trị trên mọi miền của tổ quốc.

alt

 

alt


Hội đồng hương Quảng Trị tại Đà Nẵng ra mắt đặc san xuân TÌNH QUÊ số 12

Chung — Viết bởi ngkhacphuoc @ 21:53

Để chào mừng Xuân mới, tối Chủ nhật 08-01-2012, Hội đồng hương Quảng Trị tại Đà Nẵng tổ chức ra mắt đặc san Tình Quê số 12 tại trường THPT Trần Phú. Đến dự có các bác đại diện HĐH thành phố và các phường, các anh chị trong BBT, các tác giả và nhiều bà con đồng hương.

Ngoài sáng tác của bà con đồng hương QT và các nhà thơ, nhà báo tại ĐN còn có bài vở của nhiều cây bút từ Quảng Trị và khắp mọi miền đất nước gởi về.

Báo năm nay có bài vở phong phú hơn năm ngoái và được sự tài trợ của nhiều nhà hảo tâm.

Kính thông báo và mời bà con Quảng Trị khắp cả nước đón đọc.

Sau đây là một số hình ảnh do anh Bùi Ngọc Ngữ ghi được trong buổi ra mắt.

alt

 

 

altalt

 

alt

alt

 

 

alt


Văn vần của Nguyễn Tường

Chung — Viết bởi ngkhacphuoc @ 08:22

Nguyễn Tường là bạn học cùng khóa 64-71 ở trường Trung học  Nguyễn Hoàng với tôi. Cách đây ba năm, anh đã sang Mỹ ở cùng với con cháu. Anh dùng thì giờ nhàn rỗi để đọc sách và chuyển những gì đọc được sang văn vần. Hầu như anh đã chuyển hết ngụ ngôn của Ezop và La Fontaine và đăng trên trang Blog Yahoo của anh. Anh cũng đã chuyển nhiều bài giảng và sự tích trong thánh kinh  sang thể văn ấy, ngoài ra còn họa thơ của bạn bè.  Việc này nếu không có chút năng khiếu và đặc biệt là đam mê thì khó làm được lâu dài. Nguyễn Tường  đọc chuyện bằng tiếng Anh, thay vì dịch ra văn xuôi như người ta thường làm thì anh  vừa dịch vừa chuyển sang văn vần. Hầu như tất cả bài văn vần của anh  đều có tính giáo dục đạo đức cao, có thể in thành sách để cho trẻ em đọc nhằm mở mang trí tuệ và rèn luyện nhân cách.

 

Nguyễn Tường vừa mới gởi cho bạn bè một bài văn vần nguyên tác từ văn xuôi bằng tiếng Anh. Bài này đại ý nói mọi người sinh ra đã có tài năng gì đó ẩn dấu, nếu được khai mở hoặc có cơ hội sẽ được bộc lộ. Tôi nghĩ bài này có liên quan đến năng khiếu làm văn vần của Nguyễn Tường.

 

Thưa các bạn, chúng ta không thể trở thành nhà  văn, nhà thơ (như Đổ Trung Quân, chẳng hạn), nhạc sĩ, họa sĩ, nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp nhưng ví dụ bạn có máy chụp hình ( như Đinh Thanh Hải chẳng hạn), cứ vác máy đi và chụp bất cứ cái gì thấy đẹp rồi đăng lên blog hoặc sang ra vài cái treo chơi, thế  cũng đỡ buồn và vượt qua được nỗi cô đơn của tuổi già. Đừng đặt mục tiêu sẽ trở thành nhiếp ảnh gia làm chi cho mệt, nhưng biết đâu!

 

Nguyễn Tường không là nhà văn, nhà thơ gì hết nhưng anh đã làm một việc tưởng chừng cho vui nhưng rốt cuộc trở thành có ích, trước hết cho cháu chắt của anh và có thể là cháu chắt của chúng ta nếu chúng đọc được.

 

Mời các bạn vào xem trang Blog của Nguyễn Tường được anh giới thiệu  trong bài sau.

 

THIÊN TÀI HOÀN HẢO

 

(Nguyễn Tường chuyển sang văn vần)

Đi lang thang vòng quanh hiệu sách,

tôi nhận ra có mặt rất nhiều

sách viết cho những người dốt đặc,

khù khờ, lệch lạc hoặc liu điu.

 

Có lẽ bạn đã gặp những bộ

sách chỉ dẫn đa số người đần

như Cẩm Nang Hẹn Hò Dân Ngố.

Cách Ăn Chơi Cho Đứa Hư Thân.

 

Tôi gặp quyển Kinh Nghiệm Tự Tử,

hàng trăm đề tương tự loại này.

Con số ngày một tăng thêm nữa;

choáng sốc ghê dân trí ngày nay.

 

Chúng ta mặc nhiên trong cách nghĩ

mình ngu, nên sách chỉ dạy mình.

Tôi có khi lóe ra một ý

mình viết bài cho kẻ thông minh.

 

Giả sử viết đề tài Kinh Thánh,

chuyện Ngụ Ngôn, Nhân Bản, Làm Người;

tôi linh cảm rằng ai cũng tránh,

chúng ta quen nghĩ “t xoàng thôi”.

 

Còn nhớ một lần khi rất nhỏ,

mỗi sáng mai ra chỗ hiên ngoài,

tôi hát mê say bài Thiên Cổ.

Ít lâu sau, nghe thoáng qua tai

mẹ nói với một người bên phố:

"Ging con tôi rng ta trâu cày."

Tôi giật mình và rất mắc cỡ,

từ đó về sau im tiếng ngay.

Cuối cùng, mẹ biết ra nguyên cớ

tại sao tôi im lặng suốt ngày.

Giá như xưa mẹ chê thằng nhỏ,

hát to ghê, như vậy còn hay.

 

Có thể bạn trải điều tương tự,

từ nhỏ thường vẫn cứ cho mình

là trẻ con, đồ vô tích sự,

tên bất tài, kém cỏi, vô duyên.

 

Phần lớn trong chúng ta nghĩ vậy,

và thản nhiên đi tới cuộc đời,

như số phận an bài ngần ấy,

gắng sức hoài chỉ uổng công thôi.

 

Và có lẽ, như phần đa số,

bạn ôm lòng nỗi khổ triền miên,

nước mắt, tủi thân, lời than thở

đừng mong gì vận số tốt thêm.

 

Bạn có nhiều thiên tài giấu ẩn

lúc sinh ra đã có sẵn tài,

nó vẫn còn trong con người bạn,

bất cứ lúc nào, bộc lộ ngay.

 

Thiên tài là sự thật ở bạn,

mặc cảm u mê do tự mang.

Abraham(*) khi bị thách: “Dám?

Loi chó già ông nn được chăng?”

Ông nghe thách liền trả lời thẳng:

“Anh chưa biết chó rt tài năng.”

Bạn là ai trước khi tự thắng,

nhờ học, nay đạt lắm cấp bằng.

 

Trong bạn, còn rất nhiều tài nữa,

nó đang chờ có dịp tỏ ra,

mở toang đời mình, đừng khóa cửa,

tài đang chờ được dịp chói lòa.

 

Có câu chuyện trong ngành giáo dục,

cô giáo ngày đầu nhận lớp mình

nhìn vào bản phân công lớp Một

học trò toàn những đứa thông minh.

Chỉ số I.Q. cao gần tột

Một Hai Sáu tới Một Bốn Mươi. (126, 127, 140)

Everett lông mày dựng ngược.

“Lp như mơ. Xin cám ơn Tri!”

 

Cô Everett liền khơi dậy

những khả năng thuộc loại siêu phàm

của các em giỏi hàng hiếm thấy

bằng cách dành không ít thời gian.

 

Cô cho làm những bài tập khó,

chỉ cách nào hợp tác việc chung

thực tập nhiều, đi đây, đi đó,

phương pháp luôn sáng tạo không ngừng.

 

Cuối học kỳ, rõ ràng kết quả

điểm học sinh, tất cả A, B.

Thầy hiệu trưởng nhìn vào, thấy lạ,

hỏi rằng: “Cô đã dy cách gì?”

 

Cô Everett ngây thơ hỏi:

“Ý ca thy mun nói gì đây?”

Thầy hiệu trưởng mới cười và nói:

“Cô đã được giao các em này

là nhng đa kh năng kém nht

c trường này ai cũng xua tay.

Cô biến đi chúng cách xut sc

nay thành ra các bé thiên tài.”

 

Cô đáp: “Thy nói, tôi chưa hiu.

lúc nhn lp, chúng đã thông minh.

Thy th xem li tp tài liu

ch s I.Q. đáng git mình.”

 

Thầy hiệu trưởng vội xem sách sổ

xong trả lời mắt trố, ngạc nhiên:

“Cô biết đó là nhng con s

hc áo qun, biết ch đ tìm.”

 

Nguyễn Tường.

New York City, January 05, 2012

(*) (trong Esther Hicks)

BLOG của tôi

http://vn.360plus.yahoo.com/tuong_lan88/article?new=1&mid=631

---------------------------------------------------------------------------------------------

Complete Genius

While meandering through a bookstore, I discovered a wealth of books for dummies and idiots. You have probably seen the many volumes directed at stupid people, such as Computers for Dummies and Complete Idiot’s Guide to Dating. I even saw Complete Idiot’s Guide to Near-Death Experiences! There are hundreds of titles in each of these very popular series, and the number is growing rapidly.

I was struck by how readily we identify ourselves as dummies and idiots. Obviously we think we are stupid, and these books will help. I wonder what would happen if I published a similar series for geniuses, such as Golf for Sages or The Complete Genius’s Guide to Home Repair. I have a hunch they wouldn’t sell very well at all. Not because we are not geniuses. Because we have been trained to regard ourselves as stupid.

When I was little, I sat on my front porch one morning and sang several rousing verses of “Take Me Out to the Ballgame.” A few days later I overheard my mother casually tell someone, “Alan has a foghorn voice.” That idea made an impression on me, and I did not sing for many years. After all (at that age), your mother knows everything, and if she said I couldn’t sing, I couldn’t sing.

Perhaps you had a similar experience. Perhaps early in life you adopted a thought about yourself that defined you as small, ugly, incapable, or unlovable. Most of us did. And perhaps you went on to live as if that identity was true. And perhaps, like many, you collected a pool of tears in your heart and went through life hurting because you wished you could be more.

You are more. The genius you were born as, still lives, and can be reactivated at any moment. Genius is your reality and the dark programming is your adopted personality. When Abraham (through Esther Hicks) was challenged, “You can’t teach an old dog new tricks,” Abraham answered, “You have no idea what an old dog you are!” Who you were before you learned self-defeating tricks, is still very much available and eager to come forth and shine.

There is a story in the annals of education about an elementary school teacher who arrived on the first day of school and perused her class roster. Next to each child’s name was the number of a very high I.Q. “126, 135, 140,” Miss Everett read aloud, eyebrows raised. “Thank goodness I finally got a bright class!”

Miss Everett went on to stimulate the loftiest abilities in her wiz-kids. She gave them challenging projects, took them on field trips, and offered them leeway to explore their work in creative ways.

At the end of the semester all the students earned A’s and B’s.

The day after report cards came out, the principal called her into his office and asked, “Miss Everett, what did you do with these kids?”

“What do you mean?” she asked innocently.

“You took some of the lowest-functioning students in the school and turned them into geniuses!”

“I don’t understand what you’re talking about,” the teacher replied. “These kids were bright when I got them. Here, just look at their I.Q.’s in my roll book.”

The principal scanned her roster and replied, astonished, “Miss Everett, these are their locker numbers!”


NGƯỜI CHỒNG BẰNG MÂY ĐAN

Chung — Viết bởi ngkhacphuoc @ 12:31

alt

NGƯỜI CHỒNG BẰNG MÂY ĐAN

Nguyên tác : The Wicker Husband

Truyện ngắn của Ursula Wills-Jones

Nguyễn Khắc Phước chuyển ngữ

 

Ngày xưa có một cô gái xấu xí, vừa mập vừa lùn, chân đi khập khiễng, hai lông mày dính liền nhau. Cô gái xấu xí sống bằng nghề làm ruột cá. Căn nhà xiêu vẹo của cô nằm ở ngoài làng. Cô không bao giờ than thở chuyện gì.

 

Trai gái trong làng lần lượt kết hôn với nhau. Họ tung tăng dẫn nhau đến nhà thờ làm lễ cưới. Cô gái xấu xí cũng đến dự nhưng chỉ đứng sau lưng nhà thờ khóc thầm. Phụ nữ trong làng thường ngồi lê đôi mách đủ chuyện về cô gái ấy. Rằng họ không biết cô tiều tiền vào việc gì. Rằng cô ta không bao giờ mua váy mới, không hề sửa nhà và không bao giờ đến quán ăn gì.

 

 

Vào thời gian ấy có một ông lão sống bên đầm lầy rất giỏi nghề đan rổ rá. Một hôm ông lão nghe có tiếng gõ cửa, liền mở, và trông thấy cô gái xấu xí đứng ngoài cửa. Trong tay cô có sáu đồng xu bằng vàng.

" Cháu muốn ông đan cho cháu một anh chồng," cô gái nói.

"Một tháng nữa trở lại," lão đáp.

 

Lão thợ đan hết sức cảm động vì cô gái xấu xí tin lão và giao cho lão một việc quan trọng. Lão quyết định đan một anh chồng đẹp nhất cho cô gái. Anh chồng do ông đan phải có đôi vai rộng, đôi chân dài, cánh tay khỏe, cổ dẻo dai, đôi lông mày đậm và cân đối, mái tóc nâu đen và đôi mắt xanh nâu. Và nhiều thứ khác mà đàn bà thích.

 

Đúng hẹn, cô gái đến. "Anh ấy nói hôm nay chưa được. Ngày mai anh ấy sẽ đến nhà thờ lúc mười giờ," lão thợ đan nói. Cô gái xấu xí ra về, suốt ngày ngồi gỡ vẩy cá dính trên áo.

 

Tối hôm đó anh thợ may trong làng nghe tiếng gõ cửa, liền mở, và thấy anh chồng bằng mấy đan đứng bên ngoài.

"Cho tôi mượn một bộ đồ," anh ta nói. "Sáng mai tôi cưới vợ và không thể trần truồng đến nhà thờ".

"Á á á á á!" anh thợ may sợ hãi kêu thét và bỏ chạy ra cửa sau. Chị vợ bước ra, nắm chặt hai bàn tay cho khỏi run, hỏi,"Chuyện gì vậy?". "Cho tôi mượn một bộ đồ," anh chồng đan nói. "Ngày mai tôi cưới vợ và không thể trần truồng đến nhà thờ." Chị vợ ném cho anh ta một bộ đồ và đóng sầm cửa.

 

Sau đó anh thợ giày trong làng nghe tiếng gõ cửa, liền mở, và trông thấy anh chồng đan đang đứng đó. "Cho tôi mượn một đôi giày," anh chồng đan nói. "Ngày mai tôi cưới vợ và không thể đi chân trần đến nhà thờ." "Ua trời ơi!" anh thợ giày hét lên và bỏ chạy ra cửa sau. Vợ anh thợ giày run rẩy hỏi,"Anh muốn gì?". " Cho tôi mượn một đôi giày," anh chồng mây đan nói. "Ngày mai tôi cưới vợ và không thể đi chân trần đến đám cưới." Chị vợ cho anh ta một đôi giày và đóng sầm cửa lại.

 

Anh chồng đan đi đến quán làng. "Cho tôi ít đồ uống. Ngày mai tôi cưới vợ và muốn có thứ gì đó để đãi khách," anh chồng đan nói. "Ối làng ơi!" chủ quán hét lên và tất cả khách hàng bỏ chạy. Anh chồng đan vào trong quán và lấy đồ uống.

 

Sáng hôm sau, khi đến nhà thờ, cô gái xấu xí vô cùng sung sướng vì thấy chồng mình quá đẹp trai và bảnh bao.

 

Sau đêm tân hôn thứ nhất, anh chồng đan bảo vợ, "Cái giường gảy rồi, kiếm cái đục để anh chữa lại." Như bao anh chồng tốt trên đời, anh chồng đan bắt đầu chữa giường. Chị vợ xấu xí đi làm ruột cá. Chiều cô về đến nhà, anh chồng đan nhìn chị nói, "Anh được tạo ra để sống với em."

 

Sau đêm trăng mật thứ hai, anh chồng đan nói, "Mái nhà bị dột, kiếm cái thang để anh chữa." Thế là anh chồng tốt trèo lên và bắt đầu chữa mái tranh. Chị vợ xấu xí đi làm ruột cá. Chiều đến, chị về nhà . Anh chồng đan nói, "Nếu không có em, anh đã không bao giờ được thấy ánh sáng mặt trời chiếu lên mặt nước và mây bay trên trời."

 

Sau đêm trăng mật thứ ba, trước khi đi làm, chị vợ xấu xí nói, "Cần phải làm sạch ống khói để đốt lửa." Chị vừa dứt lời, anh chồng tỏ vẻ sợ hãi. Từ đó, chị vợ xấu xí hiểu rằng không thể bắt một người đàn ông làm bất cứ chuyện gì, cho dù người ấy là một anh chồng tốt.

 

Vài tuần sau, dân làng bắt đầu chú ý sự thay đổi của chị vợ xấu xí. Dù chân vẫn cà thọt, nhưng mông chị bắt đầu lắc lắc làm họ khó chịu. Dù áo quần vẫn bốc mùi tanh, nhưng chị vừa làm cá vừa hát. Chị diện váy mới và cài hoa trên tóc. Cặp lông mày không còn dính nhau nhờ anh chồng nhổ bằng những ngón tay khỏe và dẻo. Họ để ý thấy nhà chị sơn mới, các cửa sổ sạch bóng, cửa lớn không còn xiêu vẹo. Đừng tưởng rằng những thay đổi này làm dân làng vui, không đâu. Trái lại, các chị vợ bắt đầu ra lệnh các anh chồng sửa chữa cửa nẻo và phàn nàn chồng sao không tự kiếm việc mà làm. Các anh chồng cãi : nếu các chị vợ diện váy mới và cài hoa lên tóc, thử hỏi họ có thích chữa nhà hay không. Mọi người cằn nhằn và nguyền rũa lẫn nhau, nhưng trong thâm tâm, họ đổ tội cho chị vợ xấu xí và anh chồng đan của chị ta.

 

Chị vợ xấu xí không hề biết người ta đang ganh ghét mình. Chị đang bận làm quen với cuộc sống hôn nhân, và thấy rằng anh chồng mây đan của mình có nhiều bất cập. Anh không ăn, không bao giờ phàn nàn vì cơm tối trể. Anh chỉ uống nước, càng đục càng tốt. Chị hơi buồn vì không có cơ hội nấu nướng và nhìn chồng ăn như bao người vợ khác. Vào những đêm giá lạnh, họ không ngồi cạnh nhau bên bếp lửa vì anh chồng sợ lửa, chỉ thích ngồi trong bóng tối. Khi mùa xuân đến, trời mưa nhiều, anh chồng đan bị ẩm mốc, chị phải dùng bàn chải và giấm để làm sạch mốc. Vào mùa hè, đặc biệt vào tháng sáu nóng nực, các khớp xương của anh trở nên khô cứng, và suốt ngày anh cứ nằm bên mương nước. Chị phải bưng cá ra mương làm, để ngồi với anh cho vui.

 

Càng ngày, thói tò mò thôi thúc dân làng đến nổi họ không còn chịu đựng được nữa. Nhân có một đám cưới trong làng, cặp vợ chồng ấy được mời đến dự. Đám cưới có dàn nhạc, nhảy múa, thức ăn và rượu. Khi nhạc trổi lên, chị vợ xấu xí và anh chồng đan ra sàn nhảy. Dân làng ngạc nhiên thấy anh chồng đan nhảy quá đẹp. Anh ta nhắc bổng chị vợ mập ú và quay nhiều vòng nhẹ nhàng tựa như một nhấc một chiếc lông chim. Anh chồng mây đan tỏ vẻ hết sức lịch lãm và duyên dáng. Chị vợ xấu xí tưởng mình như đang trên thiên đường.

 

Cánh phụ nữ che miệng nói thầm với nhau. Vợ anh thợ rèn là người bạo dạn nhất. Chị ta quyết định mời anh chồng đan cùng nhảy. Khi nhạc vừa ngừng, chị ta đi về phía cặp vợ chồng ấy. Chị vợ xấu xí đang ngồi trên đùi anh chồng đan làm anh này phát ra tiếng cót két. Vợ anh thợ rèn định đập vào vai anh chồng đan nhưng hai tay anh này đang ôm choàng lấy chị vợ. "Em là lý do duy nhất để anh sống và thở", anh chồng đan nói. Vợ anh thợ rèn nghe được câu ấy liền bỏ đi, chẳng nói chẳng rằng.

 

Hôm sau, không khí giận dỗi căng thẳng lan ra khắp làng.

" Ông chỉ có hai chân biết đi mà thôi," chị vợ anh thợ giày mắng chồng.

" Ông không bao giờ nói với tôi điều gì hay ho," chị vợ anh thợ rèn hét vào mặt chồng.

" Ông chỉ biết mỗi một việc là nhìn xoáy vào đám đàn bà con gái mà thôi," vợ anh chủ lò bánh nhiếc chồng. Mặc dù chính chị ta cũng không làm gì khác hơn là nhìn anh chồng đan chết mê chết mệt suốt buổi đám cưới.

 

Sau đám cưới, cánh đàn ông tụ tập tại quán rượu.

"Bậy quá, bậy quá."

"Thằng chả làm mất mặt bọn ta."

"Bày đặt sơn cửa."

"Sửa mái tranh nữa chứ."

"Thì thầm với vợ những câu lãng xẹt."

"Bày đặt khiêu vũ nữa chứ."

"Hắn có phải là người đâu. Đồ tởm lợm."

"Hắn không ăn."

"Không cằn nhằn."

"Đánh rắm cũng không," anh thợ may buồn bực nói.

Đám đàn ông lắc đầu và đều đồng ý rằng chuyện này không thể tiếp diễn được nữa.

 

Trong khi đó, cánh đàn bàn tập trung trong nhà bếp.

" Có gì đó bậy bạ trong chuyện này," họ thì thầm với nhau.

"Con vợ làm sao mà xứng với thằng chồng ấy."

"Chắc con này bỏ bùa nó thôi."

"Rồi nó sẽ bỏ bùa chồng của bọn ta . Coi chừng đấy," vợ anh chủ lò bánh nói.

"Phải làm cho nó hết vênh váo."

"Nó mà hơn bạn ta, hả?"

"Còn bày đặt cài hoa lên tóc nữa chứ."

"Thấy nó nhảy mà phát ghét."

Và họ dứt khoát chuyện này không thể tiếp diễn được nữa.

 

 

Một hôm, sau khi kiểm tra mấy cái bẩy cá, anh chồng đan mây đang đi về nhà thì tay chủ lò bánh xuất hiện và đi theo.

"Tối hôm đó anh tạo ấn tượng khá đấy."

"Thế hả?" anh chồng đan nói.

"Bọn phụ nữ bị kích động . Anh có bao giờ nghĩ...e hèm..."

"Cái gì?" anh chồng đan bối rối hỏi.

"Đàn ông như anh...có nhiều cơ hội lắm đấy". Anh ta nghiêng người về phía anh chồng đan khiến anh này phải lùi lại, né tránh. Hơi thở tay chủ lò bánh bốc mùi bột chua khiến anh chồng đan khó chịu.

"Vợ thằng hàng thịt rất hấp dẫn. Tôi biết chắc thằng chả không có ở nhà. Lên thăm thằng em ở thành phố rồi. Tới đó thử xem."

"Không được đâu," anh chồng đan nói. "Vợ tôi đang chờ tôi ở nhà". Anh chồng đan quay người và bước nhanh. Tay chủ lò bánh bực tức quay về nhà.

 

Anh chồng đan có tính cả tin, lại chẳng để bụng chuyện gì nên vợ anh ta không hề hay biết có chuyện rắc rối đang nhen nhúm. Chừng một tuần sau, khi chị vợ xấu xí đang hái quả dâu trên hàng rào thì vợ anh thợ may rón rén bước tới.

"Này em yêu quý ơi!" vợ anh thợ may vừa kêu vừa vẫy tay.

"Chuyện gì thế?" chị vợ xấu xí nói.

Vợ anh thợ may giả đò lau nước mắt, nhìn trước nhìn sau, rồi thì thầm, "Em yêu quý ơi, chị đến đây để báo cho em biết chuyện này: chồng em đang đi lại với mấy người đàn bà, em biết chưa?"

"Đàn bà nào?" chị vợ xấu xí hỏi.

Vợ anh thợ may khoát tay. Hình như chị ta không có ý định nói thế.

"Em yêu quý ơi! Đừng tin bọn đàn ông. Họ đều một giuộc như nhau. Chẳng tốt lành gì đâu - đàn ông như chồng em, đàn bà như em- thật đấy."

Chị vợ xấu xí quá tức giận, lấy cái rổ đập chị vợ anh thợ may và chạy đi. Chị vợ xấu xí về nhà, mặc dù biết nhiều chuyện chẳng lành hơn chồng mình và nghĩ mãi về chuyện ấy nhưng vì sợ phật ý chồng nên chị làm thinh.

Vợ anh thợ may giận dữ quay về nhà, trên mặt có nhiều vết xước. Tối hôm đó, tất cả những cặp vợ chồng trong làng nhất trí phải có hành động quyết liệt.

 

Vài ngày sau, lão thợ đan nghe tiếng gõ cửa, liền mở, và thấy nhiều dân làng đứng ngoài. Ngay lúc đó, vợ anh thợ may bắt đầu khóc nức nở.

"Chuyện gì thế?" lão thợ đan hỏi.

"Chị ấy không có con," vợ anh chủ lò bánh sụt sùi.

"Trai không, gái cũng không," tay thợ may buồn bã nói.

"Chẳng ai chăm sóc họ lúc tuổi xế chiều," tay lò mổ thêm.

"Họ buồn ghê lắm," chủ lò bánh tiếp.

"Thế nên chúng tôi đến yêu cầu..."

"...nhờ lão đan cho chúng tôi một đứa bé. Bằng dây mây."

Và họ cầm một túi vàng đưa ra.

"Được," lão thợ đan nói. "Một tháng sau đến đây."

 

 

Vào một ngày thu trời xám xịt, chị vợ xấu xí đang ngồi bên bếp lửa thì nghe tiếng gõ. Anh chồng đan mở cửa và thấy dân làng đứng bên ngoài. Vợ anh thợ may ẵm một cái bọc phát ra tiếng khóc oe oe.

"Cái gì thế?"

"Cái này là do mày tất," tay hàng thịt chỉ vào anh chồng đan và rít lên.

"Đồ bẩn thỉu, người không ra người," tay chủ quán khịt mũi.

Tay thợ may kéo phăng cái mền và chị vợ xấu xí trông tấy một đứa bé đan bằng dây mây. Mắt, mũi giống chồng chị như đúc. Chị khóc rống lên.

" Trời ơi! Hãy nói cái này không phải của anh đi!"

Nhưng anh chồng của chị chẳng nói chẳng rằng, cứ nhìn chằm chặp vào đứa bé. Chưa bao giờ anh trông thấy đồng loại của mình và cảm thấy hết sức xúc động. Trông thấy vẻ mặt của anh, chị vợ nằm lăn trên nền nhà, rên rỉ.

"Đồ thối tha , dơ bẩn. Đồ súc vật," tay thợ may rít lên. Anh ta chụp đứa bé liệng vào trong bếp lửa. Ngay lập tức, anh chồng đan la lên, nhảy ra. Chị vợ xấu xí hét lên, ném cây đèn dầu vào anh chồng đan. Bầu thủy tinh vở và dầu văng tung tóe. Lửa bắt đầu liếm vào ngực anh chồng đan, cháy lên cổ, lên mặt. Anh ta cố dập lửa nhưng ngón tay dính dầu bật cháy. Anh ta rú lên, chạy ra và lao xuống sông.

"Mọi sự diễn ra tốt đẹp," tay hàng thịt thỏa mãn nói.

Dân làng chẳng ai để mắt tới chị vợ xấu xí. Họ về nhà ăn cơm tối. Trên đường về, vợ tay thợ may ném đứa bé đan xuống rãnh nước, lấy chân đạp vào mặt nó và nói, "Đồ ghê tởm."

 

 

Hôm sau, chị vợ xấu xí lang thang trên đường, gặp ai chị cũng hỏi, "Chồng tôi đâu rồi?". Thấy mắt chị có vẻ dữ tợn, người ta bỏ đi. Chiều tối, khi đang lang thang không biết nơi đâu, chị nghe có tiếng gì kêu trong rãnh nước. Cúi xuống, chị trông thấy đứa bé mây đan. Nó kêu gào và cố vùng vẫy. Mắt và mũi của nó làm chị nhớ chồng. Chị ôm nó vào lòng và bồng về nhà.

 

Bấy giờ, lão thợ đan chẳng hay biết chuyện gì đã xảy ra. Một hôm lão chợt nảy ý tưởng nên đi xem hai tạo vật của lão tiến bộ ra sao. Lão vào làng, đến gõ cửa nhà tay thợ may, gặp chị vợ, lão hỏi, "Đứa bé ra sao rồi?". "Ối dào, nó chết rồi," chị vợ trả lời và đóng sầm cửa lại.

Lão thợ đan tiếp tục đi đến nhà của chị vợ xấu xí. Nhà đóng cửa, vườn tược nhếch nhác, cửa ngõ bụi bẩn. Lão thợ đan gỏ cửa, đợi thật lâu vẫn không ai trả lời.

Lão thợ đan thất vọng quay về nhà. Khi đang đi trong bóng tối chạng vạng gần đầm lầy, lão nghe có tiếng gì trong bụi cây bấc. Lúc đầu lão sợ, lấy khăn trùm mặt. Nhưng tiếng kêu hình như đi theo lão, lâu lâu lại rên rỉ. "Ai đó?" lão kêu lên. Một bóng người tã tơi đang lê bước khập khiễng trên đường, trông rất thương tâm. Lão kinh hoàng nhận ra đó là cái phần còn lại của anh chồng mây đan: tay bị lửa thiêu, mặt bị mất. Ngực bị lửa đốt tạo thành những lỗ đen, bắt đầu mục rã. Lão thợ đan khóc rống lên, "Trời ơi, ai làm gì con tôi thế này?" Anh chồng đan không nói được: lưỡi anh ta đã bị mất. Lão mang anh ta về nhà mình. Sáng hôm sau, lão bắt đầu sửa chữa. Càng chữa, lão càng tức giận, "Tao làm ra mầy, lại để cho mầy hư hỏng thế này," lão nói. "Tao sẽ không để cho mầy tới đó nữa."

 

Anh chồng đan sau một thời gian được chữa lại như mới mặc dù mùi khét vẫn còn. Nhưng vài ngày sau, mốc đen do ẩm bắt đầu mọc. Lão thợ đan rút những sợi mục và thay vào những sợi mới. Nhưng hình như vô ích: anh chồng đan bị mục từ trong ra ngoài. Rốt cục, lão thợ đan đành bó tay.

 

Không kể đêm hôm khuya khoắt, lão khoác áo và đi băng qua làng, đến nhà chị vợ xấu xí. Trong vườn đầy rác rưởi, chị vợ đang đứng, tay bồng đứa bé. Chị đang hát một điệu ru buồn da diết. Nhìn kỹ, lão thấy nó chính là đứa bé lão đã tạo ra.

 

Lão thấy cơn giận của mình dịu lại. Bước ra khỏi bóng tối, lão nói, "Chị giữ đứa bé làm gì khi mà chị đã đuổi chồng ra khỏi nhà." Nghe có người hỏi, chị vợ bật khóc òa lên, "Nó là tất cả những gì mà chồng cháu để lại," chị nói sau một hồi khóc lóc. "Dù đây là bằng chứng lừa dối của anh ấy nhưng cháu không nỡ nào để nó chết trong rãnh nước." "Chị ngốc quá," lão nói. "Chính ta đã tạo ra đứa bé nầy, chồng chị chẳng có tội gì."

 

Vừa nghe xong lời ông lão, chị vợ xấu xí hét lên và chạy ra sông. Ông lão chụp tay chị, ngăn lại, "Khoan đã. Đi theo ta, ta sẽ cho xem cái này."

 

Chị vợ xấu xí bước theo sau lão thợ đan, vòng qua đầm lầy. Khi trời sáng, chị thấy rõ mặt ông lão có nhiều nét giống đứa bé. Như những người sáng tạo khác, lão đã truyền hình dáng và tính cách của mình vào trong tác phẩm.

 

Khi họ đến chỗ ở của ông lão, chị vợ xấu xí mở cửa và thấy chồng mình đang ngồi trong bóng tối.

"Lẽ nào chồng của em đây," chị nói. "Anh đã chết rồi. Chính em đã giết anh rồi mà!"

"Anh đã được tạo ra để dành cho em", anh chồng đan nói. "Nhưng em lại vứt anh đi."

Chị vợ khóc òa lên và quỳ xuống, gục đầu vào chân chồng.

 

Vài ngày sau, dân làng ngạc nhiên thấy lão thợ đan đứng trước nhà thờ.

"Lão có chuyện muốn nói với các người," lão nói. "Ta sắp nghỉ hưu. Nhưng trước khi nghỉ hưu, ta muốn làm một kiệt tác - một cô gái bằng mây đan. Nếu muốn, các người sẽ được phép sở hữu cô ta. Nhưng các người phải cho lão quà để lão nghỉ hưu. Bất cứ ai mang quà có giá trị nhất sẽ được phép sở hữu cô ta." Nói xong, lão quay lưng và đi về đầm lầy.

Khi lão vừa đi xong, dân làng bắt đầu xầm xì.

"Thằng chồng mây đan cao ráo và phong nhã quá đi chứ!"

"Nó làm việc siêng năng quá chứ lỵ?"

"Anh ta không đẹp trai nhưng biết chiều vợ đấy chứ?"

 

Hôm sau, dân làng tuyệt đối không ai nói mình thích cô gái đan, nhưng bắt đầu có kế hoạch. Đàn ông hỏi nhau về giá bò. Đàn bà lén mở hộp đựng nữ trang.

"Thằng chồng đan làm việc như nô lệ, chẳng bao giờ đòi ăn," vợ anh thợ giày nói với chồng. "Mua cho tôi con gái đan ấy để tôi bắt nó làm đầy tớ. Tôi sẽ làm bà hoàng, suốt ngày chẳng đụng đến móng tay."

"Thằng chồng đan không bao giờ cãi cọ với ai, chẳng khi nào to tiếng," tay chủ quán trọ nói với vợ. "Không như bà, giống hàng tôm hàng cá."

"Thằng chồng đan chẳng mỏi mệt, nhức đầu," anh hàng thịt nói với anh chủ lò bánh. "Hãy tưởng tượng xem..."

"Này em, cho chị mượn ít tiền," vợ anh thợ giày nói. "Chị cần mua đồ lót mới."

"Không được đâu," vợ anh thợ rèn nói. "Em đã mua thuốc hết rồi. Con em đau nặng lắm."

"Trả món tiền mầy còn nợ tao ngay đi," anh hàng thịt nói với anh thợ may đang thuê nhà mình.

"Lâu nay có may vá gì được đâu," anh thợ may nhỏ nhẹ. " Em sẽ trả bác nay mai thôi."

Anh hàng thịt lên phố thuê luật sư đuổi anh thợ may khỏi nhà mình. Anh thợ may dẫn vợ đến thuê nhà anh thợ giày.

"Ông định dùng cái nhà trống vào việc gì?" vợ anh hàng thịt hỏi chồng.

"Chẳng làm gì cả," anh hàng thịt nói, bụng nghĩ đến chỗ ở cho cô vợ bé.

Vợ anh hàng thịt đánh nhau với vợ anh thơ may ngoài chợ, về nhà mặt sưng bầm. Trong quán, không ai nói gì, chỉ len lén nhìn nhau.

Tay luật sư vẫn chưa về làng. Người ta đồn vợ anh thợ may đang muốn ly hôn. Vợ anh chủ quán trọ kêu cảnh sát bắt chồng khi thấy cầu thang có bôi mỡ.

Tóm lại, lúa không ai gặt, bò không ai vắt sữa, bếp lò không ai dọn. Cả làng đang bị ám.

 

Thế rồi một ngày lão thợ đan đến, ngồi bên hông nhà thờ. Dân làng mang quà tới. Đầu tiên anh thợ may mang một cái áo bành tô đắt giá. Kế đến, anh thợ xay xát mang một chục bao lúa. Anh chủ lò bánh mang một cái bánh cực kỳ ngon. Anh thợ mộc mang một bộ bàn ghế. Anh xà ích mang một con ngựa to khỏe. Vợ anh thợ rèn khệ nệ bưng một miếng pho-mát to cỡ bánh xe. Em họ chị ta, vợ anh thợ may, mang đến một túi vàng.

"Vàng ở đâu ra vậy?" anh thợ may hỏi vợ.

"Mắc mớ chi ông," chị vợ đốp chát.

Vợ chủ quán trọ không có mặt. Chị ta bị trượt chân khi lên cầu thang.

Người cuối cùng là tay hàng thịt. Anh ta bỏ xa những người khác: hai con bò đực, bốn con bò cái và chục con cừu.

Lão thợ đan nhìn quanh rồi nói, "Được rồi. Phần thưởng thuộc về ... anh hàng thịt. Lão mang những thứ nầy về và sẽ mang cô gái đan trở lại."

Tay hàng thịt quá sung sướng đến rớt nước dãi.

"Tôi lấy lại lúa," anh xay xát nói.

‘Không không," lão thợ đan nói. "Đây có phải là mua bán gì đâu". Lão chất hết hàng lên ngựa.

 

Đáng lẽ ra dân làng phải túm nhau mà đánh lộn nhưng vì họ quá tha thiết muốn trông thấy cô gái đan nên chỉ đứng đó và chờ.

 

Khi lão thợ đan trở lại thì trời đã nhá nhem tối. Cô gái đan ngồi trên lưng ngựa, mặc áo choàng, đầu đội khăn voan như một cô dâu. Khi cô đi ngang, dân làng ngửi thấy mùi hương ngào ngạt.

Anh hàng thịt đứng trước ngôi nhà trước đây cho anh thợ may thuê. Để chuẩn bị, anh đã nhốt vợ vào trong kho than.

Lão thợ may đưa tay, giúp cô gái đan bước xuống. Anh hàng thịt trố mắt nhìn cô. Cô gái đan thấp và chân đi vòng kiềng, mặt đen và thô nhám. Nhưng tệ hơn, từ đầu đến chân phủ đầy gai.

"Cái quái gì thế này?" tay hàng thịt rít lên.

"À," lão thợ đan nói. "Anh chồng đan được làm bằng cây mây. Mây là cây cao, thân mềm mại, chẳng làm ai đau đớn. Nhưng ta thấy các người không thích, nên ta làm cô gái này bằng cây mận gai. Mận gai thì cứng và đầy gai. Lửa hay nước không làm cô ta chết."

 

Dân làng có lẽ đã đè lão thợ đan mà đánh nếu cô gái đan không bước ra. Cô ta chụp tay hàng thịt và hôn vào môi anh ta. Tay hàng thịt rú lên. Khi dứt ra được, môi anh ta bị cào xước, máu chảy xuống cằm. Đúng lúc ấy, người ta nghe một tiếng rầm: vợ tay hàng thịt đã thoát khỏi kho than và đang chạy tới. Trông thấy cô gái đan đang hôn chồng mình, chị ta thét lên và đè cô gái đan xuống. Hai người xoắn với nhau, lăn xuống rãnh nước, vừa hú vừa cào.

Ngay lúc ấy, tay luật sư xuất hiện. "Các người chưa làm biên bản sao? Phải kiểm tra mọi dấu vết. Quan trọng lắm đấy," tay luật sư nói.

Dân làng lấy dao của tay hàng thịt, kéo của tay thợ may, xảy rơm của mình, rượt đuổi tay luật sư. Chạy đến khi mệt đứt hơi, họ ngừng.

"Lão thợ đan gian trá," tay lò bánh nói. "Lão lừa bọn ta rồi." Thế là họ quay sang đường khác, nhắm hướng đầm lầy.

Trời đã tối và họ vấp ngã, lỏm bỏm trong bùn, lạc đường và gần bị sa lầy.

Khi đến được chỗ ở của lão thợ đan, họ đốt lửa lên cho sáng. Nhưng lão thợ đan, anh chồng bằng mây đan, chị vợ xấu xí, đứa bé và tất cả hàng hóa của dân làng, hết thảy đều biến mất.

 

Ursula Wills-Jones

Nguyên tác bằng tiếng Anh đăng trên trang East of the Web.

Nguyễn Khắc Phước chuyển ngữ.



TÌM HIỂU CHỮ KẺ CỦA CÁC LÀNG

Chung — Viết bởi ngkhacphuoc @ 14:45

Bài viết sau đây được tìm thấy trên trang Blog của Làng Văn Quỹ (langvanquy.blogtiengviet.net). Người viết không hiểu gốc tích của từ KẺ đi trước tên một số làng trong vùng và mong giới thức giả trả lời giúp.

TÌM HIỂU CHỮ KẺ CỦA CÁC  LÀNG  

Nguyễn Văn Hiền (Làng Văn Quỹ, xã Hải Văn nay là xã Hải Tân,Quảng Trị)

 

Các xã lân cận trong vùng thuộc Huyện Hải Lăng bao gồm Tổng Câu Hoan và Tổng An Thơ từ thời khai sơn lập làng cho đến các đời chúa Nguyễn và sau nầy là Triều Nguyễn.
Khi tôi lớn lên đã nghe người dân trong vùng gọi đến tiếng Kẻ như chợ Kẻ Diên thuộc xã Hải Thọ,làng Kẻ Lạng Thuộc xã Hải Sơn,làng Kẽ Văn thuộc xã Hải Văn nay là xã Hải Tân,làng Kẻ vịnh thuộc xã Hải Kinh nay là Hải Hòa và làng Kẻ Phù thuộc xã Phong Bình bên kia bờ sông Ô Lâu tỉnh Thừa Thiên,
Kẻ Diên ở Diên Sanh là một nơi phát triển mạnh về chợ và buôn bán sầm uất theo sach Ô Châu Cận Lục của dịch dã Dương Văn An mô tả là một xã có Hố sen rất đẹp không thua kém gì ở Quý Quốc (ví như là ở Trung Quốc)hải sãn rất nhiều bà con trong vùng giao thương buôn bán và trao đổi hàng hóa với nhau nên chợ Kẻ Diên là rất sầm uất,khi tôi lớn lên cũng thường hay đi với Mẹ ra chợ ,năm tôi 13 tuổi hồi đó học trường Mẩu Tâm lúc đi thi hết bậc tiểu học đều phải đi thi tập trung ở trường Hải Thọ đã thấy một xã giàu có phố xá cửa hiệu buôn bán lớn và đã có bến xe đi về Huế.

Từ Diên Sanh đi vào phía Nam qua bờ nam sông là xã Hải Chánh có chợ Mỹ Chánh thuộc làng mỹ chánh và Hội kỳ(hai làng ở đây không có chử Kẻ) Xã Hải Chánh chợ ở đây buôn bán rất lớn đông vào buổi sáng hầu hết người dân hai bên mạn sông Ô Lâu từ thượng nguồn về tận Làng Rào giao thương trao đổi hàng hóa từ mờ sáng đến gần trưa mới bải chợ để về họp chợ buổi chiều của các làng có chợ.
Chợ Kẻ Lạng ở làng Lương Điền xã Hải Sơn cũng họp chợ môt buổi và có tiếng là Chột Nưa hôì đó ở ngay chợ có bến đò đưa ngang qua làng Mỹ Xuyên thuộc xã Phong Hòa rồi đi lên Mỷ Chánh nên chợ làng ở đây mới có câu ca của dân trong vùng (nhất thuốc Phù Lai nhì khoai Tân Trường ba nưa Kẻ Lạng bốn sắn càng Câu Nhi,chợ Kẻ Lạng hiện nay không còn đông nửa) đi men theo bờ sông Ô Lâu về đến đầu làng Câu Nhi là đò ba bến ở đây có chợ Câu Nhi (làng ở đây không có chử Kẻ) đò đưa qua ba bến là từ chợ Câu nhi qua làng Lương Điền rồi từ Lương Điền qua làng Mỹ Xuyên cứ đưa đi đưa về ba bến như thế nên gọi là đò ba bến chợ ở đây chỉ buôn bán nhỏ trong làng và một số bà con các làng gần đó qua lại trao đổi hàng hóa chợ ở đây có nguồn cá sông của các Vạn chài đến bán nên cá rất tươi đặc biệt ở đây có Sắn Càng rất ngon được mô tả là Sắn Càng đặc Sản làng câu nhi.
Đi hết làng Câu nhi là đến làng Văn Quỹ và có tên gọi là làng Kẻ Văn ở đây đầu làng cũng có chợ Kẻ Văn khi tôi lớn lên thì đã có chợ và nghe mẹ tôi kể lại trong thời kháng chiến bà con trong các làng lân cận gọi là chợ kháng chiến mua bán hàng hóa cũng nhiều có một số nhà giàu có làm nhà kiên cố và buôn bán hàng tạp hóa hiệu thuốc bắc của ông Lý Quãng Phù người làng Câu Nhi và Thuốc Tây của ông Phò(ông người gốc làng Ưu Điềm) chửa bệnh cho tất cả bà con ở các làng lân cận quầy hàng của ông bà Sỷ Lạc,có bến cho ghe thuyền của người dân các nơi đến neo đậu để giao thương buôn bán,ngoài nghề làm nông ra nghề truyền thống của dân làng là nghề chằm nón lá,ở trong làng cũng có nhiều người đi buôn theo các chợ phiên như chợ Cầu,Chợ Phiên Cam Lộ,chợ Sòng,chợ Quãng Trị,chợ Sãi,đưa nón lá đi bán các chợ phiên và đưa các loại hàng hóa đặc sản khác về trao đổi cho bà con trong làng.đi về hơn một km là làng Kẻ Vịnh nay là làng Hưng Nhơn ở đây chỉ làm nghề nông vì nơi đây ruộng trưa rất nhiều ngoài ra còn thêm nghề chăn nuôi và nghề cá.
Bên kia bờ sông là chợ ưu điềm có bến xe mổi ngày hai chuyến đi vô ra thành phố Huế,chợ ưu Điềm rất sầm uất có phố xá và nhiều hàng hóa rất có tiếng ở trong vùng.Đi về phía đông khoãng 2km là làng Phò Trạch có chợ Kẻ Phù chợ này giao thương buôn bán cũng khá lớn từ các làng Vân Trình,Phú Nông,Lương Mai,Phù Lai,Thanh Hương,Đại Lược.....làng Kẻ Phù có nghề truyền thống là Đan Đệm vì ở đây các bàu, trằm, và một số ruộng sâu ngày xưa dân làng trồng cây lác là vật liệu để sãn xuất đệm có một đình chợ giao thương buôn bán các xã lân cận và một số làng ở tỉnh Quãng Trị qua mua bán,nghề trồng lác và sãn xuất các loại sãn phẩm như đệm,bao đệm,và một số vật dụng gia dụng khác có lẽ nghề nầy được người dân ở đây đưa từ ngoài Bắc lúc di dân vào đây khoãng thế kỷ XV mang theo giống và nghề này vào để sinh sống,nghề gia truyền hiện nay cũng còn một số gia đình đang lưu truyền và sãn xuất.
Nhìn lại một số xã mà theo sach Ô Châu Cận Lục ghi lại như Văn Quỹ,Vĩnh Hưng,Diên Sanh,Phò Trạch thì đã có đầy đủ trong sách riêng Xã Hải Sơn có Chợ Kẻ Lạng thì không có trong Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An như vậy làng Lương Điền xã Hải Sơn và làng Mỹ Chánh,Hội Kỳ xã Hải Chánh được thành lập từ thế kỷ nào?
Qua phân tích trên chúng tôi xin bạn đọc cần tìm hiểu về những làng có chử Kẻ nêu trên được đặt tên làng(KẺ)từ thế kỉ của Triều đại nào và chử Kẻ có truyền thuyết như thế nào,theo tôi thì vào các thời các Chúa Nguyễn và Triều Nguyễn thời thuộc địa Pháp mà họ đạo của các giáo xứ đặt tên riêng.
Rất mong các bạn ở các làng có chử Kẽ cho ý kiến để tìm hiểu về truyền thuyết mà hiện nay những làng trên vãn còn tên gọi của nó,qua đây cũng mong bạn đọc ở các tỉnh như Thanh Hóa,Nghệ An,Hà Tỉnh có những tên gọi đó không?

Nguyễn Văn Hiền (Làng Văn Quỹ xã Hải Văn nay là xã Hải Tân Quãng Trị)

 

Bài viết sau đây được tìm thấy trên trang Họ Phạm Viêt Nam (hophamvietnam.org) giải thích từ KẺ trong tên những làng cổ Việt Nam. Mời quý vị đọc và bình luận.

 

Những làng cổ có tên là "Kẻ"

 

Nghiên cứu địa danh các làng xã cổ xưa của người Việt, chúng ta thấy có một hiện tượng đặc biệt. Đó là tên nhiều làng có từ "kẻ". Thí dụ, ngay tại Hà Nội có Kẻ Noi (Cổ Nhuế), Kẻ Mọc (Nhân Mục), Kẻ Cót (Yên Quyết), Kẻ Mẩy (Mễ Trì) rồi Kẻ Bưởi, Kẻ Mơ, Kẻ Giàn, Kẻ Cáo...

 

Kẻ là người, kẻ cũng là làng

Ngôn ngữ Việt cổ có từ kẻ mà ngày nay vẫn còn gây tranh cãi trong những người cầm bút. Thậm chí, có người từng lên án gay gắt việc dùng câu tục ngữ "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây". Theo quan điểm của những người này thì kẻ là một từ chỉ người với nội dung xấu, như kẻ cắp, kẻ cướp, kẻ gian, kẻ thù... Vậy thì không thể dùng cụm từ "kẻ trồng cây" mà phải dùng cụm từ "người trồng cây" mới đúng chăng!

Thực ra, trong kho tàng ngôn ngữ Việt cổ, ông cha ta dùng hai từ kẻ và người không hề phân biệt. Có thể dẫn chứng hàng loạt thành ngữ, tục ngữ để minh chứng cho điều này. Thí dụ: kẻ trên người dưới; kẻ trước người sau; kẻ cười người khóc; kẻ tám lạng người nửa cân; kẻ vào người ra; kẻ ở người đi; kẻ giàu người nghèo... Trong tất cả những thành ngữ, tục ngữ đó, kẻ và người được đặt ngang nhau và nếu ta đem hoán vị giữa hai từ kẻ và người, ý nghĩa của thành ngữ, tục ngữ đó cũng không thay đổi. Vì vậy, chúng ta có thể yên tâm đặt một dấu "bằng" giữa kẻ và người (kẻ=người) mà không hề phải phân vân gì.

Nghiên cứu địa danh các làng xã cổ xưa của người Việt, chúng ta thấy có một hiện tượng đặc biệt. Đó là tên nhiều làng có từ "kẻ". Thí dụ, ngay tại Hà Nội có Kẻ Noi (Cổ Nhuế), Kẻ Mọc (Nhân Mục), Kẻ Cót (Yên Quyết), Kẻ Mẩy (Mễ Trì) rồi Kẻ Bưởi, Kẻ Mơ, Kẻ Giàn, Kẻ Cáo... Có một điều chung nhất trong tất cả các làng mang tên kẻ này, đó đều là những làng cổ. Theo ý nghĩa của ngôn từ Việt cổ, có thể hiểu từ kẻ ở đây chỉ một cụm dân cư sống trên một địa bàn cụ thể. Thí dụ, Kẻ Noi = Người (ở làng) Noi; Kẻ Mọc = Người (ở làng) Mọc; Kẻ Bưởi = Người (ở làng) Bưởi... Để đơn giản, người ta hiểu: Kẻ Noi = làng Noi; Kẻ Mọc = làng Mọc; Kẻ Bưởi = làng Bưởi... Như vậy, ở đây kẻ được đồng nhất với làng.

Khi các triều đình phong kiến Trung Hoa sang xâm lược nước ta, để tiện lợi cho việc ghi chép vào giấy tờ, sách vở (theo chữ Hán), mỗi làng lại phải đặt một tên chữ (âm Hán - Việt). Khác với tên Nôm chỉ có một từ (không kể từ Kẻ đứng trước), tên chữ thường có ít nhất là hai từ. Như vậy, những làng cổ ra đời trước thời Bắc thuộc, nhất thiết phải có hai tên, một tên Nôm (kèm Kẻ) và một tên chữ. Những làng ra đời trong thời kỳ phong kiến thường chỉ có tên chữ, không có tên nôm và không có Kẻ. Đó là tiêu chí để ta phân biệt những làng cổ ra đời trước thời Bắc thuộc và những làng mới được thành lập sau này.

Trong việc đặt tên làng xã của Việt Nam, ta lại thấy có hiện tượng đặt tên làng theo tên dòng họ, như Nguyễn Xá, Hoàng Xá, Phan Xá, Bùi Xá... Xá là một từ Hán - Việt chỉ nơi cư trú: Nguyễn Xá là nơi cư trú của những người họ Nguyễn, Hoàng Xá là nơi cư trú của những người họ Hoàng... Trong những làng mang tên Xá như vậy cũng có những dòng họ khác sinh sống. Tuy nhiên, dòng họ mà làng mang tên dòng họ lớn nhất, có vị thế chủ đạo, có ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt vật chất và văn hóa tinh thần của cả làng. Từ nguồn gốc hình thành và tên gọi của nó, các làng mang tên Xá không thể ra đời trước thời điểm các triều đình phong kiến Trung Hoa sang đô hộ nước ta. Như vậy, trong hệ thống địa danh các làng cổ Việt Nam, những làng có Kẻ là những làng xuất hiện sớm nhất. Có thể coi đó là những địa bàn định cư, những đơn vị cơ sở đầu tiên của thời Hùng Vương dựng nước. Trong một cuốn địa chí văn hóa của xứ Thanh, làng có Kẻ chiếm 24%; làng không Kẻ chiếm 76% (trong đó bao gồm làng có Xá, làng do di dân lập ấp trong thời phong kiến, làng do đất phong và các trại khai hoang xưa, nay đã thành làng). Như vậy, với một vùng đất cổ như Thanh Hóa, có đến 24% số làng xuất hiện từ thời Hùng Vương dựng nước.

 

Sự phân bố các làng Kẻ trên bản đồ Việt Nam

Những vùng làng có tên Kẻ được tập trung vào ba trung tâm chính:

1. Trung tâm núi Hồng - sông Lam: Đây là một vùng có nhiều làng cổ có tên là Kẻ. Phạm vi những làng này nằm trong vùng đồng bằng và vùng ven chân núi phía nam Nghệ An, phía bắc Hà Tĩnh mà dày đặc nhất là vùng ven núi Hồng - sông Lam. ở đây có những huyện mà số làng tên Kẻ chiếm đến 2/3 (tức hơn 60%) tổng số các làng, như huyện Can Lộc (Hà Tĩnh). Các huyện Nghi Xuân, Đức Thọ, Thạch Hà, Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh), Thanh Chương, Đô Lương, Anh Sơn, Nam Đàn, Nghi Lộc, Nghĩa Đàn, Quỳnh Lưu (Nghệ An) có nhiều làng Kẻ. Các di tích khảo cổ chủ yếu như Thạch Lạc, Làng Vạc, Quỳnh Văn nằm trong phạm vi vùng Kẻ này. Đi về phía nam, các làng Kẻ ít dần. Vùng Bình - Trị - Thiên cũng có Kẻ nhưng thưa thớt hơn. Phía nam đèo Hải Vân, các Kẻ còn thấy xuất hiện đến tận Quảng Nam, Quảng Ngãi

2. Trung tâm Đông Sơn (Thanh Hóa): Đây cũng là một vùng dày đặc các làng tên Kẻ. Phạm vi bao gồm các huyện nằm ven chân núi và vùng đồng bằng sông Mã, sông Chu như: Đông Sơn, Thiệu Yên, Triệu Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Quảng Xương, Hà Trung, Nông Cống. Các làng Kẻ làm thành một vệt liên tục từ Kẻ Don (Vĩnh Lộc) xuống Kẻ Đàng (Thiệu Yên). Các di tích khảo cổ chủ yếu của thời đại đồng thau như Đông Sơn, Thiệu Dương, Hoằng Hóa... nằm trong phạm vi khu vực này. Có một điều đặc biệt lý thú là toàn bộ huyện Nga Sơn không hề có một làng tên Kẻ nào (trong lúc đó, các huyện bên cạnh đều có làng Kẻ!). Điều này hoàn toàn phù hợp với truyền thuyết Mai An Tiêm: vào thời vua Hùng, toàn bộ vùng này đang nằm sâu dưới biển, chỉ nhô lên một vài hòn đảo (Mai An Tiêm bị đày ra đảo hoang ở Nga Sơn theo truyền thuyết).

3. Trung tâm Việt Trì - Phong Châu: Đây là trung tâm của thời kỳ các vua Hùng. Những làng mang tên Kẻ ở đây phân bố ven theo chân núi Ba Vì, Tam Đảo và dọc theo châu thổ sông Hồng từ Phong Châu, Việt Trì xuống đến phạm vi thủ đô Hà Nội. Các huyện Phong Châu, Thanh Sơn, Sông Thao, thành phố Việt Trì (Phú Thọ), Lập Thạch, Tam Đảo, Vĩnh Lạc, Mê Linh (Vĩnh Phúc), Sóc Sơn, Đông Anh, Từ Liêm, Gia Lâm (Hà Nội) đều có nhiều làng Kẻ. Những làng có đền thờ các nhân vật thời Hùng Vương, những làng lưu truyền các truyền thuyết về các tướng tá thời Hùng, thường là những làng mang tên Kẻ. Những di chỉ khảo cổ chủ yếu như Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun... nằm trong khu vực này. Đền Hùng ở cạnh một làng mang tên Kẻ: Kẻ Khống (Chu Hóa, Phong Châu); Cổ Loa là Kẻ Chủ; quê hương của người anh hùng Thánh Gióng là Kẻ Đổng (Phù Đổng, Gia Lâm). Toàn bộ vùng Kẻ ở khu vực này tạo thành một hình tam giác, lệch về góc đông nam. Ở rìa của góc đông nam đó là vùng Trâu Sơn - Phả Lại, là nơi kẻ thù thường xâm phạm. Đó chính là bối cảnh của chiến trường Thánh Gióng đánh giặc Ân trong truyền thuyết. Vùng đất thủ đô Hà Nội cũng là một vùng đất cổ, trên đó dày đặc các làng có tên Kẻ như chúng tôi đã trích dẫn ở phần đầu. Có nhiều Kẻ ở ngoại thành, có những Kẻ bây giờ thuộc nội thành như Kẻ Bưởi, Kẻ Mơ...

Ở phía nam Hà Nội vắng hẳn các làng tên Kẻ. Theo một số tài liệu nghiên cứu thì cách đây 3.000 năm, đường bờ biển ở vào khoảng Chương Mỹ, Thường Tín, nối đến thành phố Hải Dương ngày nay (lúc ấy, vùng núi đá vôi Nho Quan - Ninh Bình có phong cảnh như vịnh Hạ Long bây giờ). Cách đây 2.000 năm, đường bờ biển lùi xuống Ninh Bình, Nam Định. Như vậy thì vào thời Hùng Vương, vùng đất phía nam Hà Nội đang là bãi cát bồi ven biển, chưa được khai phá. Điều đó cắt nghĩa vì sao ở đây không có các làng tên Kẻ. Điều này cũng phù hợp với truyền thuyết Chử Đồng Tử - Tiên Dung: đây là lãnh thổ đang "tranh chấp" giữa con người và thiên nhiên, chưa có những khu vực dân cư ổn định (các tên Chử Xá, Dạ Trạch là các tên Hán - Việt do đời sau đặt).

 

Kinh đô Văn Lang

Trong thư Hoài Nam Vương gửi Hán Vũ Đế (thế kỷ 2 trước Công nguyên) có ghi: "Nam Việt không phải là nơi ấp lý có thành quách. Họ ở trong khoảng khe suối, ở giữa rừng tre" (Hoài Nam Tử). Có thể thấy: ngay từ xưa, người Việt đã ở trong các làng có lũy tre dày đặc bao bọc (người Trung Hoa nhìn từ ngoài vào, không hiểu, cho là rừng tre). Tre là lũy để bảo vệ an toàn cho các Kẻ, chứ không cần phải thành quách. Với trình độ kỹ thuật quân sự xưa, chỉ có tên tre và mũi lao, mũi giáo bằng đồng thì lũy tre dày đặc bao quanh các Kẻ thật là kiên cố. Bên trong các Kẻ đó lại có các lũy tre phân chia từng gia đình thành từng ô nhỏ. Vì vậy, nếu kẻ thù đột nhập vào đây sẽ như lọt vào trận đồ bát quái, khó có thể tìm được lối ra và sẽ bị tiêu diệt. Vì vậy, chúng ta có thể khẳng định: vào thời kỳ Hùng Vương, người Việt chưa có thành quách và cũng không có nhu cầu xây đắp thành. Ngay kinh đô Văn Lang của các vua Hùng có thể cũng chỉ là một Làng Lớn (Làng Cả - Kẻ Cả) mà thôi (các nhà khảo cổ cho rằng khu di tích Làng Cả - Việt Trì chính là kinh đô Văn Lang xưa).

Tất nhiên, vào thời vua Hùng không phải chỉ có Kẻ. Kẻ chỉ ở đồng bằng và vùng đồi núi thấp. Ở những vùng cao có các bản, mường. Ngay gần kinh đô Văn Lang cũng có rất nhiều bản, mường của người Mường, người Dao. Có thể nói: những kẻ, bản, mường đó là những tập hợp cư dân, những đơn vị cơ sở đầu tiên của thời kỳ Hùng Vương dựng nước.

 

(Phan Duy Kha tổng hợp)

 


BẢN LĨNH ĐÀN ÔNG

Chung — Viết bởi ngkhacphuoc @ 15:04

Truyện ngắn

Nguyên tác: A Man of Dignity của Sheila Brown Sandray.

Nguyễn Khắc Phước chuyển ngữ.

 

Solomon chuyên nghề làm vườn và anh yêu đất đai Châu Phi quê hương của anh. Anh làm công cho gia đình Peterson không kể giờ giấc, chỉ biết làm cho xong việc.

Solomon chăm sóc vườn như chăm sóc cha mẹ, xem cây cối như là con cái của mình.

Hôm ấy là chiều thứ Bảy, khuất phía sau hàng rào, không ai nghĩ rằng vào giờ đó, Solomon vẫn còn đang lúi húi buộc mấy cây cà chua.

Cũng nhờ đó mà anh nghe được câu chuyện từ khu vườn bên cạnh, khiến anh choáng váng như sấm nổ bên tai.

Người ta nói rằng cô gái mà anh dành hết con tim, tâm hồn và cũng vì người ấy mà bao nhiêu tiền dành được anh đều bỏ vào cái hộp nhỏ dấu dưới mái nhà – thế mà bây giờ anh nghe cô gái này không chỉ của riêng anh.

Solomon đứng phắt dậy và những người bên kia vườn biết anh đã nghe được liền bỏ chạy.

Solomon là người đàn ông đàng hoàng, đứng đắn, không phải hạng người mà ai đàm tiếu gì cũng được. Anh thường nghiêm trang, ít khi đùa giỡn, nhưng khi đã cười, anh cười thoải mái. Hiếm khi anh ngồi với bạn bè ở quán bên đường để bỡn cợt hay nói chuyện tục tĩu. Nhưng khi anh đã ngồi lại thì câu chuyện của anh bao giờ cũng thú vị và lôi cuốn, và so với đám thanh niên ở đó thì anh như con sư tử giữa đám mèo con.

Lúc này Solomon đang đứng bên hàng rào, nhìn bọn đàn ông bỏ chạy với cặp mắt rực lửa.

Anh đứng đó một mình, run lên vì tức giận. Dòng máu chiến binh Zulu truyền từ tổ tiên bao đời đang bừng cháy hừng hực trong anh.

“Ta phải giết ả!” anh nghĩ. Nhưng anh biết mình sẽ không bao giờ nở giết mặt trời, mặt trăng và tinh tú của đời anh.

“Bọn chúng nói láo!” anh lẩm bẩm. Nhưng anh biết đó không phải là chuyện biạ đặt. Đã có nhiều dấu hiệu chứng tỏ điều đó là sự thật. Cái vòng đeo tay nàng nói là của cha nàng cho. Cha nàng cũng đã cho em gái nàng một chiếc vòng lấp lành khi nó lấy chồng, và chú rể đã nộp sính lễ khá hậu hĩnh. Anh tìn câu chuyện của nàng, như đàn ông thường nghe lời phụ nữ, vì anh muốn những điều nàng nói là sự thật.

Solomon điên cuồng vung cái rựa dùng để chặt mía vào đám cỏ chằng chịt bò từ ngoài vào vườn cho đến khi mồ hôi đổ ra như tắm xuống lưng và đùi.

Nhìn bóng mình phản chiếu trên mặt hồ, anh thấy mình cao lớn, khỏe mạnh, da đen bóng như tổ tiên người Zulu. Dái tai kéo căng bao quanh vòng hột cườm lớn bằng đồng xu nửa đô-la. Một tay đưa lên cầm dái tai, Solomon đứng suy nghĩ lan man.

“Mình đi hỏi thầy mo xem sao”, cuối cùng anh quyết định, và cảm thấy như vừa trút một gánh nặng. Quay lại với vườn cà chua, anh nhẹ nhàng buộc mấy nhánh dễ gảy vào giàn.

Lão thầy mo chẳng giúp được gì. Lão ném một nhúm xương khô xuống đất, nhìn chằm chằm vào nhúm xương như để tìm thông tin gì đó, mắt lão lấp lánh như mắt loài rắn mamba đằng sau cái mặt nạ rúm ró mà lão đang mang.

“Một con linh cẩu đang rình bắt con bê của mầy”, lão nói xong liền gom xương lại.  Solomon hy vọng ngồi đợi nhưng lão không ném xương nữa. Lão nhìn anh với đôi mắt lấp lánh và thêm:

“Về ở nhà suốt ngày, không ăn, không uống, không ngủ. Khi đàn sáo về tổ, mầy sẽ biết phải làm gì.”

Tất cả chỉ có thế.

Solomon miễn cưỡng lê bước nặng nhọc về nhà. Suốt ngày Chủ nhật yên tĩnh, anh ngồi ở ngưởng cửa, lưng dựa vào cánh cửa gỗ.

Đó là một chỗ ngồi thuận lợi. Từ đây, anh có thể quan sát được từ nhà, vườn đến con đường đất chạy từ dưới thung lủng vòng lên đồi rồi mất hút cuối tầm mắt. Ngay trước mặt anh là con đường ô-tô vòng qua cổng nhà anh rồi chạy băng qua làng của thổ dân. Phía trái, một con đường đất chạy dọc theo sườn đồi hướng về ga xe lửa. Đúng là chỗ ngồi tuyệt vời để mơ mộng và nhìn ngắm tất cả những gì diễn ra trong thung lủng mà không cần đi đâu.

Một phụ nữ đi bộ lên đến đỉnh dốc của con đường đất, lưng địu một đứa bé. Đầu đứa bé tựa lên vai chị, mắt nhìn chằm chằm vào Solomon. Anh vẩy tay và đứa bé cười giòn, ngọ nguậy trông có vẻ khoái chí. Người phụ nữ quay lại nhìn Solomon không cười nhưng có vẻ thân thiện vì anh đã làm con chị ta vui. Solomon nhận ra chị này không phải là người xa lạ mà khá nổi tiếng vì chị chưa cho mọi người biết tên cha đứa bé là ai. Mặc dù từng nghe người ta đàm tiếu về đức hạnh của chị nhưng ngay lúc này, Solomon cảm thấy chị là người tốt vì chị chẳng làm duyên làm dáng gì mà chỉ nghĩ đến đứa bé trên lưng.

Nếu mình lấy chị ta và có con thì chị đã không ở trong hoàn cảnh này. Nhưng nếu mình lấy chị ta mà chị ta đã… thì xem như đời mình tiêu.

Solomon đổi thế ngồi cho dễ chịu hơn và dùng ngón chân này gải mắt cá nhân kia.

Đàn ông cần đàn bà. Không đàn bà thì mình cũng như cây dừa cái pawpaw không trái đứng trong góc sân kia. Bóng nó mát nhưng chẳng có trái trăng gì vì không có cây đực nào gần nó, do đó, nó cũng chỉ một nửa cây, cũng như mình chỉ là một nửa nếu không có đàn bà.

Anh nhìn cái cây cô đơn và thương hại nó. Cây ơi, tao sẽ đề nghị ông Peterson trồng thêm một cây đực trong sân này. Ông ta là người da trắng, chẳng quê hương gì ở đây, nên ông ta chẳng hiểu gì về mày hết. Được rồi, tao sẽ giúp mày, cây nhé.

Nếu mình cưới nàng và đưa nàng về làng mình sinh sống, có lẻ không còn ai quyến rủ nàng bằng vòng đeo tay?

Nhưng Solomon không thể sống ở làng mình vì cha anh không đủ gia súc để cung cấp cho ba người con trai, đất thì quá cằn cỗi. Trong khu bảo tồn cũng không có việc. Nhưng không sao. Nàng không phải là hạng đàn bà chỉ biết ngồi ở cửa lều giả ngô. Nàng cũng không phải là hạng đàn bà thành phố phơi tấm lưng trần, vừa đi vừa lắc mông và mắt nhìn khêu gợi. Nàng không phải là hạng đàn bà như thế.

Anh ngồi vậy ở ngưởng cửa trong khi mặt trời lên cao, chiếu sáng mái nhà. Anh suy nghĩ mông lung nhưng rồi ý nghĩ lại quay về nàng, làm sao cho nàng hài lòng, cả tính gian dối bướng bỉnh của nàng nữa. Và cơn giận đang ngọ nguậy trong anh như một con rắn đang cuộn mình chờ mồi.

Vào lúc mười giờ sáng, Peterson và vợ leo lên ô-tô, vui vẻ đóng cửa và chạy về hướng nhà thờ. Solomon nhìn đám bụi hạ dần xuống mặt đường. Anh nghĩ về nhừng người da trắng. Họ biết sản xuất ra ô-tô và nhiều thứ khác và luôn luôn bận rộn nhưng họ không thể giúp giải quyết chuyện của anh.

Ông Gibson, chủ ngôi nhà phía trước nhà ông Peterson, có cô vợ tóc vàng xinh đẹp. Được một thời gian thì bà vợ tóc vàng của ông không ở nhà một mình vào buổi chiều. Đúng vậy, bà không ở nhà một mình. Một người đàn ông cao to với tiếng cười sang sảng thường đến với bà ta. Một hôm ông Gibson về nhà sớm và thấy vợ mình và thằng cha cao to kia xoắn với nhau. Người đàn ông kia bỏ đi. Có tiếng ồn ào, xủng xoảng trong nhà và tiếng cười của người đàn bà. Sau đó, người vợ tóc vàng ra đi cùng với thằng cha cao to. Gibson chẳng ngăn cản cũng chẳng đánh đập gì bà vợ. Sau đó ông ở nhà một mình, luôn cặp nách chai rượu, và dần dần mất trí khôn. Khi thì khóc lóc, than thân trách phận, khi thì đi đứng liêu xiêu, khi thì la mắng đầy tớ, và mắng cả Solomon, nhưng họ đều tha thứ cho ông vì ông cư xử như một đứa trẻ. Ông ta chẳng còn là đấng nam nhi nữa vì đã đánh mất bản lĩnh của mình. Solomon chợt nghĩ rằng một thằng đàn ông bò ra từ lều đất nhưng vẫn có thể đứng cao hơn kẻ khác bước ra từ nhà cao cửa rộng.

Ta sẽ không giống ông Gipson, sẽ không bao giờ giống ông ta.

Mặt trời bây giờ đã lên cao. Solomon núp vào cánh cửa cho đỡ nắng. Anh cảm thấy nóng và khát, nhưng phải tuân lệnh lão thầy mo, mặc dù thật lòng chẳng muốn.

Đáng lẻ lão ta nên cho mình biết tên con linh cẩu đó, Solomon nghĩ. Có lẻ lão ta không biết. Có lẻ bùa lão hết thiêng rồi chăng? Nhưng năm ngoái có một phụ nữ chọc lão giận. Thế rồi chị ta chết lúc sinh nở. Một người đàn ông cãi lại lão, rồi thằng con trai ngốc nghếch của ông ta bơi ra khỏi vùng an toàn ở bãi biển Durban và bị cá mập tấn công. Đúng là lão thầy mo có bùa phép. Mình phải đợi.

Nghĩ thế và anh ngồi đợi trong khi mặt trời đang từ từ chuyển dần về phía tây, đến khi bóng căn lều đổ dài trước mặt anh, nhọn như một mũi dao.

Cái bóng làm Solomon liên tưởng đến một con dao để giết địch thủ của anh - con linh cẩu sẽ bò vào đêm nay.

Solomon vói tay ra sau sánh cửa, cầm cái rựa và hòn đá mài lên. Ngồi xổm trước cửa, anh bắt đầu mài rựa vốn đã bén như dao cạo. Anh mài chậm và đúng cách, mắt lim dim như người đang mơ hay đang nuôi cái sự chết chóc trong đầu.

Chỗ Solomon ngồi là một chỗ tốt vì anh có thể thấy mọi thứ diễn ra trên đường từ dưới dốc lên đỉnh đồi và bất sứ ai đang đi  từ dưới dốc lên đỉnh đồi đều thấy anh.

Có tiềng huýt sáo từ dưới thung lủng nghe tựa như tiếng gió thổi qua ruộng bắp. Solomon tiếp tục mài rựa.

Vào lúc cuối chiều, một người bước ngập ngừng trên đường ô-tô và đến đứng trước mặt Solomon. Anh ta đứng như thế chừng một phút, đến khi Solomon trở về thực tại.

“Chào bạn Jonah”, Solomon nói khẻ.

Cảm thấy nhẹ nhỏm, Jonah ngồi xổm bên cạnh Solomon đang tiếp tục mài rựa.

“Solomon này, tao biết mày đang nghĩ gì.”

Solomon không trả lời. Jonah và anh là bạn cùng làng cho đến khi Solomon vào tìm việc trong thành phố. Khi Jonah lên phố, Solomon đã kiếm cho bạn một chân làm vườn, nhưng Jonah chẳng đeo đuổi lâu. Jonah kiếm việc khác rồi lại bỏ. Nhiều lần như thế. Anh ta rất khoái loại bia nội địa và tiếng cười của phụ nữ, và làm đến khi kiếm đủ tiền để chơi bời là bỏ việc. Khi hết tiền lại kiếm việc làm. Càng ngày việc càng khó kiếm và lương càng ít.

“Solomon này”, Jonah nói. “Tao không khuyên mày đừng làm chuyện này. Mày muốn làm gì tùy mày. Mày muốn giết thằng kia để nó không còn tán tĩnh con bồ mày, nhưng rồi mày cũng chẳng còn sống để yêu đương nó vì cảnh sát sẽ treo cổ mày.

Solomon không tỏ vẻ mình đang nghe. Jonah tiếp tục nói nhỏ nhẹ.

“Solomon này, chẳng hay ho gì để một thằng đàn ông phải tìm đến cái chết.

Solomon ngừng mài để thở, dường như để công nhận điều Jonah nói là đúng. Anh nghĩ rằng một thằng đàn ông để cho sự việc dẫn đến phải chịu tội treo cổ thì chẳng còn chi là phẩm giá bởi đó là cái chết nhục nhã trong đống bùn nhơ do chính mình tạo ra. Và anh thấy trời đã bắt đầu chạng vạng và phía bên kia thung lủng, đàn chim sáo đang bay lượn nhào lộn theo đội hình.

Jonah kề tai anh nói:

“Hãy suy nghĩ cho kỹ, bạn ơi!” Nếu mày giết người ta rồi lại bị giết, con bồ mày đâu chịu cô đơn lâu dài, mà sẽ vào tay thằng khác. Thói đàn bà là thế.”

Solomon chưa bao giờ nghĩ chuyện gì sẽ xảy ra sau cái chết của tình địch và của cả chính anh. Chuyện này chẳng làm anh nhụt chí. Nay thì anh thấy chuyện này là chuyện vô ích vô tuồng, chẳng được cái tích sự gì. Anh lim dim chăm chú nhìn đàn chim sáo đang bay lượn trên trời.

“Có cách gì khác không?”

Vĩ mãi mê xem đàn chim sáo nên Solomon không thấy bàn tay bạn mình đang run và lén liếm môi trước khi trả lời.

“Tao đã suy nghĩ kỹ khi tao thấy mày ngồi đây suốt ngày; nếu là mầy, tao sẽ…” Jonah ngừng nói khi Solomon tỏ vẻ căng thẳng. Theo tín hiệu bí mật của con chim đầu đàn, cả đàn chim sáo sà xuống vào một cây, để lại bầu trời trống rổng. Solomon thở dài và bỏ rựa xuống. Lần đầu tiên anh chú ý người đang nói chuyện với mình.

“Mầy sẽ làm gì?”

“Tao sẽ nói với thằng kia rằng nếu mày muốn cô ta thì tao sẽ giao cho mày, tao không cần cô ta nữa. Tao chán cô ta rồi. Tao sẽ mỉm cười với nó và nói tao chấm dứt với cô ta rồi, mầy cứ chiếm cô ta đi. Thế là thằng cha kia sẽ thắc mắc không hiểu tại sao mày bỏ con bồ mày dễ dàng như vậy. Nếu mày chán cô ta, có lẻ cô ta chẳng có giá trị gì. Tự ái của thằng đàn ông không cho phép nó lấy cái thứ mà người ta bỏ đi. Và rồi nó sẽ chán cô ta.”

Solomon chăm chú nhìn cái cây nơi mà đàn sáo đã hạ cánh. Rồi anh trầm ngâm nhìn khắp thung lủng một hồi lâu.

Rồi đột nhiên anh đứng dậy và lẩm bẩm.

“Tao sẽ làm thế.”

“Mầy biết thằng kia ở đâu không?”

“Tao sẽ đợi nó gần nhà cô ta.”

Solomon không muốn cho bạn biết mình chưa biết tình địch là ai, và cũng không muốn hỏi.

Jonah nhìn bạn và hiểu ý.

“Nó sẽ sợ mà không đến. Để tao bảo nó. Tốt hơn là mầy đừng tiếp xúc với nó. Nên dùng một người trung gian.”

“Tối nay tao sẽ đợi”, Solomon quả quyết. “Nếu đến sáng mà nó không đến, mầy sẽ nói với nó.”

“Được.”

Khi Solomon ra khỏi nhà thì trời đã chạng vạng. Đêm Phi Châu xuống rất nhanh mà đường đến nhà nàng thì xa. Màu đỏ của cây đổ quyên đã biến thành màu xám xịt rước khi anh đến gần chỗ của nàng. Trăng thượng tuần chiếu xuống mặt đường thành những đốm bạc.

Lều của nàng nằm phía sau nhà của ông chủ. Solomon đi ngang qua cổng chính, vào cổng vườn mía, đi len giữa những hàng mía cho đến khi trông thấy dưới ánh trăng màu trắng mờ của bức tường. Đó là lều của nàng. Núp trong bóng bụi mía, không ai thấy anh nhưng anh có thể thấy cái của chính của căn lều.

Và thế là anh đợi. Quanh anh, đêm Phi Châu yên ắng. Thực ra thì chẳng yên lặng hoàn toàn bởi âm thanh của hàng trăm loài côn trùng bé tí và loài săn côn trùng không hề bé tí chút nào cứ vo ve suốt đêm.

Solomon ngồi xổm, đầu cúi xuống, vừa đợi vừa ôn lại những điều anh dự định nói với thằng cha mà anh chưa biết tên. Anh đợi. Xáo lui xáo tới những câu nói ây trong đầu cho đến khi bầu trời phía đông hừng sáng, và thằng cha kia không đến, cũng chẳng từ lều nàng đi ra.

“Để cho chắc”, Solomon tự nhủ, “mình thử nhìn vào trong lều nàng xem sao.”

Anh bước nhẹ đến bên cửa và gỏ. Có tiếng sột soạt bên trong rồi một giọng sợ hãi cất lên.

“Ai đó?”

“Solomon đây. Đừng sợ. Mở cửa đi.”

Có tiếng chân bước đến bên cửa, tiếng chốt cửa kêu cót két và cửa mở. Nàng đứng đó, mỉm cười với anh nhưng ánh mắt toát lên vẻ sợ hãi.

“Em đang đợi anh”, nàng nói, vẻ dụ dỗ của kẻ giả nhân giả nghĩa. Nàng sà vào anh, hai tay quàng qua cổ.

Anh gỡ tay nàng ra và nhẹ nhàng đẩy nàng ra. Lúc này, những câu nói suốt đêm anh đã chuẩn bị dành cho thằng cha không đến đang nóng như hòn than trên đầu lưỡi và làm anh ngạt thở.

“Này cô em,” anh dõng dạc nói. “Tôi không cần cô nữa. Tôi chán cô rồi. Tìm một thằng khác nếu cô cần. Thế là hết.”

Anh không nhìn nàng lúc nói mà nhìn vào góc phòng. Trước đây, mỗi khi anh đến, cả con tim và khối óc, cả cặp mắt và tâm hồn đều dành cho nàng. Nay lần đầu tiên anh thấy mạng nhện treo lủng lẳng trên trần và nền nhà thì lắm thứ ngổn ngang, không được quét dọn. Cái khăn quàng cổ màu sáng mà anh đã mua từ tiệm người Ấn đang nằm một nửa trên giường, một nửa dính đất. Áo quần nàng không treo trên móc dính tường hay xếp gọn gàng trong trong va-li dưới giường và vứt lung tung trên nền nhà.

Có lẻ đây là lần đầu anh thấy cảnh này. Có lẻ đó là một ngày vừa đói vừa khát, bị dày vò bởi sự bất quyết, một đêm chờ đợi vô ích,  Nhưng khi anh nói những lời đã thuộc nằm lòng, những lời mà suốt đêm anh đã tôi luyện để trở thành đanh thép để sẵn sàng phát ngôn và chấp nhận – anh tin đó là những lời tất nhiên phải nói. Thực tâm anh không muốn nàng nữa. Anh nhìn nàng, thử xem nàng có bùa ngãi gì mà mê hoặc anh đến thế, và thấy nàng cũng chỉ là một phụ nữ từng sống trong làng, sau đó lên thành phố sống khá lâu. “Thế là hết,” anh lặp lại nhẹ nhàng hơn. Lần này anh nhìn vào mắt nàng. Rồi anh quay gót, sải bước theo luống mía một cách quả quyết và đầy bản lĩnh. Anh nhìn bầu trời bình minh xanh lơ, những ngọn mía sao mà non tơ đến thế và lòng chợt rộn ràng những khúc nhạc vui.

Người phụ nữ vẫn đứng ở khung cửa, tay che miệng, mắt đăm nhìn theo lối anh đi.

Chiều tối, nàng lại đứng đó, nhìn đăm đăm vào lối anh đi thì Jonah xuất hiện, mỉm cười, lộ cái răng gảy.

“Anh sẽ cho em biết anh thông minh thế nào,” Jonah vừa nói vừa cười. “Anh đã lừa được thằng Solomon. Nó đã để lộ tâm địa của nó và không hề biết anh chính là thằng mà hắn muốn tìm.” Hắn cười ha hả và chạm tay vào vai nàng nhưng nàng vẫn nhìn chằm chặp vào lối đi.

“Đừng sợ,” Jonah nói. “Solomon sẽ không bao giờ đến nữa. Anh quá thông minh và thế là chúng ta đã loại được hắn.”

Hắn lại chạm tay vào vai nàng, và nàng quay lại nhìn hắn, đôi mắt trống rỗng và giọng nói khô khốc.

“Đi đi ông ơi,” nàng nói. “Đi khuất mắt.”

“Cái gì? Có chuyện gì nữa đây?”

“Solomon không yêu tôi. Anh ấy chán tôi rồi.”

Jonah cười ha hả. “Không phải đâu. Đó là do anh phỉnh hắn. Anh bảo hắn nói thế với thằng kia.”

“Anh ấy chán tôi.”

“Không phải thế. Đây chỉ là trò đùa thông minh của anh.”

“Anh ấy chán tôi,” nàng lặp lại. “Thế là hết. Tôi thấy điều đó trong mắt anh ấy.”

“Em và anh đều đã muốn loại hắn,” Jonah chống chế.

“Nhưng không phải bị bở rơi,” nàng than thở. “Thật quá kinh khủng khi bị bỏ rơi.”

Jonah muốn lay người nàng.

“Hắn ta chi giả vờ cho đỡ ngượng.”

Nhưng nàng lắc đầu. “Không. Khi nói lần đầu thì anh ấy giả vờ, không nhìn tôi. Nhưng khi anh nhìn tôi, tôi biết đó là sự thật. Tôi thấy điều đó trong mắt anh ấy.”

Jonah lộ vẻ mất kiên nhẫn, nắm lấy vai nàng.

“Này em ơi, đừng ngốc nữa.”

“Mắt anh ấy là mắt của người xa lạ.”

Dù cố gắng, cái bướng bỉnh của nàng khiến Jonah nao lòng và bắt đầu ngờ vực. Có lẻ hắn đã bỏ cô ta thật sao? Hắn chán cô ta thật sao? Vậy thì tại sao? Có lẻ cô ta không đáng giá?… nhìn cô gái, Jonah phân vân tự hỏi.

Để trấn an, hắn cầm tay nàng. Nhưng trời ơi, cái nghi ngờ trong lòng hắn biến hắn thành một cậu bé chưa bao giờ biết phụ nữ là gì. Nhìn thấy thái độ đó của hắn, nàng quay mặt và tiếng cười khô khốc của nàng đã đuổi hắn ra khỏi lều. Hắn theo lối mà Solomon đã đi nhưng không kiêu hãnh và thoải maí như Solomon. Không thể chịu được, hắn lấy tay bịt tai mình để khỏi nghe tiếng cười chế giểu kia. Hắn ôm đầu bỏ chạy, tựa như cái đầu của con linh cẩu bỏ lại sau buổi tiệc của đàn sư tử.

Như con mồi bị săn đuổi, hắn chạy nháo nhào cho đến khi không còn thở được, chân thì đau không nhấc nổi. Cuối cùng, hắn dừng lại vì đuối sức.

Hắn nhìn quanh và hoảng sợ vì thấy mình đã chạy thẳng đến lều của Solomon. Solomon nhìn hắn với vẻ thông cảm.

Jonah cố gắng nói nhưng miệng khô cứng và không thốt nên lời.

Solomon mỉm cười nhìn hắn, nụ cười dịu dàng không tả nổi. Anh đội cái mũ rơm mới, màu vàng của nắng, vành rộng và dây màu sáng. Ngồi trên ngưởng cửa, anh ôm cây đàn ghi-ta mới cứng và gảy một khúc nhạc dịu êm.

Đó là hình ảnh một người đàn ông đang sống hòa bình với thế giới.

“Mấy năm nay, cuộc sống của mình khá bậy bạ”, anh nhẹ nhàng nhận xét, và không biết anh đang nói với mình hay với con người hèn hạ đang đứng như trời trồng vì sợ trong bóng râm của cây pawpaw không trái.

“Vâng. Mình ngu quá. Mình dành tiền chỉ để mua quà cho gái, không mua gì cho mình để vui chơi. Bạn có nghĩ đó là sai lầm không?

Miệng Jonah mấp máy nhiều đợt nhưng chẳng thốt nên lời.

“Vâng”, Solomon tiếp tục nói như đang mơ. “Một thằng đàn ông phải có thú tiêu khiển của riêng mình. Hắn không nên quá nghiêm túc, quá trì độn. Có lẻ mình sẽ mua một chiếc xe đạp. Cái tiệm người Ấn trên phố có một chiếc khá tốt nhưng không đắt lắm. Có một chiếc xe đạp cũng thú vị lắm chứ.”

Solomon nhìn Jonah và ngừng đánh đàn, do đó, tiếng anh nói vang lên trong yên lặng, rõ ràng như hòn cuội ném xuống giếng.

“Mày sợ cái gì?  Trở lại với cô ta đi. Cô ta không còn gì với tao nữa.”

“Cô ta không chứa chấp tao”, Jonah nói lí nhí, vẻ nhục nhã lộ trên gương mặt. “Cố ta muốn mày.”

Solomon không trả lời nhưng lại bắt đầu chơi những giai điệu Phi Châu mạnh mẽ. Anh tựa lưng vào tường để nắng chiếu lên chiếc mũ rơm và sưởi ấm mặt anh.

Và rồi có tiếng bước chân nhẹ nhàng trên lối sỏi và người con gái ấy đến, không lắc mông, không nhún nhảy nhưng điềm đạm, đầu cúi nhìn xuống đất. Không có vòng lấp lánh trên tay, không có chuổi hạt cườm quanh cổ. Nàng chỉ trang điểm bằng chiếc khăn quàng màu sáng, bây giờ đã giặt ủi nên nó trở nên rực rỡ.

Nàng đi ngang qua Jonah đang đứng như dính chặt vào cây pawpaw và đến đứng trước mặt Solomon.

“Solomon, em vừa đến”, nàng nói thì thầm.

“Tôi không quen cô”, Solomon nói.

Nàng nhìn anh, nước mắt bắt đầu ứa từ cặp mắt to đen.

“Solomon, Solomon”, nàng gọi khẻ.

“Này cô kia, tôi không quen cô”, anh nhắc lại. “Chúng ta là người xa lạ, cô và tôi. Xin hỏi cha mẹ cô là ai?”

Nàng hiểu và mỉm cười e thẹn với vẻ hy vọng.

“Em từ làng đến đây”, nàng bắt đầu và ngồi xuống sát bên chân của Solomon./.

 

 

Truyện ngắn  A MAN OF DIGNITY của Sheila Brown Sandray được đăng trong tập truyện ngắn THE WORLD’S BEST CONTEMPORARY SHORT STORIES, NXB Ace Book, Inc., New York, 1956.

 

VÀI DÒNG VỂ TÁC GIẢ

Cha mẹ và bà con bên nội của Sheila Brown Sandray sống ở Nam Phi nhưng bà thì ở nhiều nơi trên thế giới.

Bà sinh tại York, Anh quốc vào năm 1924, trải qua tuổi ấu thơ tại Colombia, Tích Lan. Học tại Queen Anne, Caversham, Anh quốc. Khi bố của bà đóng quân tại Gibraltar (một vùng lãnh thổ thuộc Anh gần Tây Ban Nha), bà thường về đó nghỉ hè mặc dù Tây Ban Nha đang có nội chiến. Khi Thế Chiến thứ hai bùng nổ, bà dời đến sống ở Madeira, một quần đảo thuộc Bồ Đào Nha, tại đây, bà học ngôn ngữ với một nhà phê bình sách người Đức sống tha hương. Trở lại nước Anh trong thời gian chiến tranh, bà làm việc cho Cục Tình báo Chính trị thuộc Bộ Ngoại giao ba năm và sau đó làm việc cho Liên Hiệp Quốc tại Vienna ba năm. Bà sống ở Canada một thời gian rồi về sống với cha mẹ tại Nam Phi. Rồi bà lấy một nhạc sĩ người Mỹ và sống tại Phoenix, bang Arizona với ba người con.



1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15  Sau»

Powered by vnWeblogs